Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Coat of arms of Vietnam.svg
Loạt bài
Chính trị nước CHXHCN Việt Nam

Hiến pháp
Chủ tịch nước
Quốc hội
Chính phủ
Thủ tướng
Tòa án nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Đảng Cộng sản
Tổng Bí thư
Bộ Chính trị
Ban Bí thư
Ban Chấp hành Trung ương

sửa

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (viết tắt là BCHTƯ hoặc BCHTW) là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam giữa hai kì đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp giữa hai nhiệm kì đại hội là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy).

Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương do đại hội đại biểu toàn quốc bầu và số lượng ủy viên do đại hội quyết định. Năm 1976 sau đại hội kỳ IV thì số Ủy viên là 101 người. Đến kỳ VIII thì số Ủy viên tăng lên 170.[1]. Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm 160 ủy viên chính thức và 41 ủy viên dự khuyết.

Mục lục

[sửa] Nhiệm vụ

  • Tổ chức chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ đảng, các nghị quyết của đại hội đại biểu toàn quốc; quyết định những chủ trương, chính sách về đối nội, đối ngoại, công tác quần chúng và công tác xây dựng đảng; chuẩn bị đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ tiếp theo, đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có).
  • Bầu Bộ Chính trị; bầu Tổng Bí thư trong số Uỷ viên Bộ Chính trị; thành lập Ban Bí thư gồm Tổng Bí thư, một số Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công và một số Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; bầu Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; bầu Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương trong số Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương. Quyết định số lượng Uỷ viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.
  • Triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc thường lệ 5 năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm. Khi Ban Chấp hành Trung ương xét thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp ủy trực thuộc yêu cầu thì Ban Chấp hành Trung ương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường.

Ban Chấp hành trung ương có thẩm quyền giới thiệu người ra ứng cử Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ để Quốc hội thảo luận và phê chuẩn [2] [3]

Theo Điều lệ Đảng thì Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị. Trong khi đó Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, nhưng không phải là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

[sửa] Phương thức làm việc

  • Họp thường lệ sáu tháng một lần; họp bất thường khi cần.

[sửa] Thành viên

Thành viên Ban Chấp hành trung ương thường gồm các quan chức cấp cao trong bộ máy đảng, nhà nước, đoàn thể ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương thường đảm nhiệm các cương vị quan trọng: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban bí thư, người đứng đầu các ban của đảng, phó trưởng ban các ban của đảng, cấp trưởng các cơ quan đơn vị sự nghiệp của đảng, Phó chủ tịch nước, Phó thủ tướng và các bộ trưởng,Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội, Tổng tham mưu trưởng Quân đội, Thứ trưởng các bộ quốc phòng và công an, Phó chủ tịch Quốc hội, người đứng đầu các ủy ban quan trọng của Quốc hội, Bí thư các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể chính trị xã hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.[4]

[sửa] Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội lần thứ nhất của đảng

Ban Chấp hành Trung ương lâm thời thành lập sau Hội nghị thành lập đảng tháng 2 năm 1930 có: Trịnh Đình Cửu (Tổng Bí thư lâm thời), Nguyễn Văn Hới, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Phạm Hữu Lầu, Hoàng Quốc Việt, Lưu Lập Đạo, sau bổ sung thêm Trần Phú.

Sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất tháng 10 năm 1930, Ban Chấp hành Trung ương gồm 6 ủy viên: Trần Phú, Ngô Đức Trì, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc...Tổng Bí thư: Trần Phú.

Phong trào nổi dậy 1930-1931, nổi bật là Xô-viết Nghệ Tĩnh bị Pháp đàn áp. Tổ chức của đảng bị tan vỡ. Cuối năm 1931, Lê Hồng Phong trở về Trung Quốc bắt liên lạc với cán bộ Việt Nam ở nước ngoài như: Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ... mục đích lập lại Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng và thảo chương trình hành động của Đảng.

Tháng 3 năm 1934, Ban chỉ huy ở ngoài được thành lập gồm có Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt do Lê Hồng Phong làm Bí thư. Sau đó còn có thêm các người khác như Phùng Chí Kiên. Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng trước Đại hội I có chức năng như là Ban chấp hành Trung ương Lâm thời và được Quốc tế cộng sản công nhận, quy định rõ chức năng nhiệm vụ.


[sửa] Chú thích

  1. ^ Abuza, Zachary. Renovating Politics in Contemporary Vietnam. Boulder, CO: Lynne Rienner Publishers, 2001. Trang 19.
  2. ^ Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, giới thiệu người ra ứng cử Chủ tịch Quốc hội http://www.vnexpress.net/GL/Phap-luat/2001/05/3B9B0AB6/
  3. ^ Đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch nước giới thiệu http://baobackan.org.vn/channel/1021/2006/06/10517/
  4. ^ [http://222.255.31.179:8080/tiengviet/tulieuvankien/details.asp?topic=105&subtopic=211&leader_topic=505&id=BT26120663758.

[sửa] Liên kết ngoài

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa

I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII | IX | X

Ngôn ngữ khác